Lịch sử hình thành Sinh trắc dấu vân tay

GIỚI THIỆU SINH TRẮC VÂN TAY

Sự hình thành và con đường phát triển

GIỚI THIỆU SINH TRẮC VÂN TAY VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

Lịch sử sinh trắc vân tay được khởi xướng vào cuối thế kỉ XIX bởi nhà khoa học Francis Galton. Từ đó đến nay nó được phát triển mạnh mẽ nhờ một đội ngũ hùng hậu các nhà di truyền học và sinh vật học. Năm 1880, Henry Faulds đưa ra lý luận về số lượng vân tay RC (Ridge Count) để đánh giá mức độ phụ thuộc của vân tay vào gen di truyền.

Các nhà bác học cho rằng dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hệ thống gen di truyền mà thai nhi được thừa hưởng và tác động của môi trường thông qua hệ thống mạch máu và hệ thống thần kinh nằm giữa hạ bì và biểu bì. Một vài trong số các tác động đó là sự cung cấp ôxy, sự hình thành các dây thần kinh, sự phân bố các tuyến mồ hôi, sự phát triển của các biểu mô… Điều thú vị là mặc dù có chung một hệ thống gen di truyền nhưng vân tay ở mười đầu ngón tay của mỗi cá nhân khác nhau. Năm 1868 nhà bác học Roberts chỉ ra rằng mỗi ngón tay có một môi trường phát triển vi mô khác nhau; ngoài ra ngón tay cái và ngón tay trỏ còn phải chịu thêm một vài tác động môi trường riêng. Vì vậy, vân tay trên mười đầu ngón tay của một cá nhân khác nhau. Hai anh em (chị em) song sinh cùng trứng có dấu vân tay khá là giống nhau nhưng vẫn có thể phân biệt được rõ dấu vân tay của từng người. Đó là vì tuy có cùng hệ thống gen di truyền và chia sẻ chung môi trường phát triển trong bụng mẹ nhưng do họ có vị trí khác nhau trong dạ con nên môi trường vi mô của họ khác nhau và do đó có dấu vân tay khác nhau.

Nehemiah
Nehemiah Grew

Tiến sĩ Nehemiah Grew (1641-1712) giới thiệu những nghiên cứu đầu tiên về dấu vân tay đến Hội Hoàng gia.

Năm 1684

Năm 1686

Marcello Malphigi
Tiến sĩ Marcello Malphigi (1628-1694) đưa ra luận thuyết về các 3 chủng vân tay: xoắn, móc, vòm trong dấu vân tay.
marcello-malpighi
J.C.Mayer
J.C.Mayer là người đầu tiên đưa ra thuyết cơ bản về phân tích vân tay và giả thuyết rằng Dấu vân tay là duy nhất.
Năm 1788
Năm 1823
Joannes Evangelista Purkinji

Tiến sĩ Joannes Evangelista Purkinji phát hiện ra rằng vân tay bắt đầu hình thành ở khoảng tuần thứ 13 của thai nhi trong bụng mẹ.

Dr. Pa Jinjie
Năm 1823 Lần đầu tiên được ghi lại bởi Dr. Pa Jinjie, người Czech. Bàn tay được bao phủ bởi 1 lớp các nếp nhăn tạo nên đường vân cụ thể. Mỗi bộ vân tay đều độc nhất và khác nhau. Vì vân tay là độc nhất và có tính di truyền, chúng ta có thể nhận dạng cá nhân (ID), nhận diện tính cách và tiềm năng của từng người.
Năm 1823

Năm 1880

Henry Faulds

Dr_henry_fauldsTiến sĩ Henry Faulds đưa ra lý luận số lượng vân tay TFRC, có thể dự đoán tương đối chính xác mức độ phụ thuộc của chúng vào gen di truyền của mỗi người. TFRC nói lên hệ thống gen mà con người được thừa kế trong đó có liên quan đến tiềm năng và trí tuệ của mỗi người theo gen di truyền.

Francis Galton

francis-galtonFrancis Galton (1822-1911) là cháu họ của Charles Darwin. Ông đã nghiên cứu về tầm quan trọng và tính ổn định của vân tay để nhận dạng cá nhân và xác định các biến thể di truyền của dâu vân tay giữa các chủng tộc khác nhau. Ông là người đầu tiên nói rằng vân tay là một bản vẽ thiết kế di truyền. Việc phân loại vân tay của ông là một bước tiến quan trọng. Ông đã đơn giản hoá việc phân loại vân tay và chia vân tay thành 3 loại cơ bản: Arch (không có tam giác delta), Loop (một điểm delta), và Whorl (hai điểm delta). Nghiên cứu của ông được coi là kinh điển trong lĩnh vực Dematoglyphics và làm dấy lên sự quan tâm tập trung của các nhà khoa học về nhân chủng học, động vật học, di truyền học và tội phạm học.

Năm 1892
Năm 1897
Harris Hawthorne Wilder

harris_hawthorneHarris Hawthorne Wilder là người Mỹ đầu tiên học về Dermatoglyphics nghiên cứu các gò trên bàn tay và gọi chúng là 3 điểm bán kính A, B, C; đồng thời đưa ra các chỉ dẫn về các loại vân tay chính.

Harold Cummins

harold-cumminTiến sĩ Harold Cummins được xem là “cha đẻ của Dermatoglyphics” đã đề xuất “Dermatoglyphics” (Sinh trắc học dấu vân tay) như là một thuật ngữ cho chuyên ngành nghiên cứu dấu vân tay tại Hiệp hội hình thái học của Mỹ. Từ đó, Dermatoglyphics chính thức trở thành một ngành nghiên cứu riêng biệt. Những khám phá trong cuộc đời hoạt động nghiên cứu cùng những kỹ thuật ông đã phát triển – còn gọi là “Phương pháp Cummins” – được công nhận như một công cụ quan trọng trong việc phát hiện tính di truyền và quan hệ của quá trình tiến hóa. Phương pháp này đã và đang được sử dụng phổ biến trong việc chẩn đoán một số bệnh như tâm thần phân liệt hay thiểu năng trí tuệ. Ông đã xây dựng lý thuyết Dermatoglyphics và đưa ra lý luận chỉ số cường độ vân tay PI (Pattern Intensity) chính thức trở thành nền tảng chuyên môn.

Năm 1926

Năm 1930
Hiệp hội SSPP

Hiệp hội nghiên cứu hình thái sinh lý học (viết tắt là SSPP: Society for the Study of Physiological Patterns) bắt đầu công trình nghiên cứu 5 chủng loại vân tay và những nét đặc trưng độc đáo của nó.

Julius Spier Chirologist

Julius-SpierTiến sĩ tâm lý phân tích Julius Spier Chirologist xuất bản cuốn sách “Bàn tay của trẻ em”. Ông đã khám phá một số điểm đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển tâm sinh lý, chẩn đoán sự mất cân bằng và các vấn đề trong khu vực này từ các mô hình của bàn tay. Ông đặt nhiều ý nghĩa về ảnh hưởng liên tục của gia đình và cuộc sống ban đầu của chúng ta đến sự phát triển cá nhân. Theo ông, lý do của phân tích bàn tay là một cách giải phóng con người khỏi những ảnh hưởng nhiễu từ xã hội và môi trường làm mờ đi năng lực bẩm sinh đích thực của cá nhân.

Năm 1944

Năm 1958

Noel Jaquin
Noel Jaquin (1893-1974) đã nghiên cứu và phát hiện ra mỗi vân tay sẽ tương ứng với một chủng loại tính cách.
Noel-Jaquin
Beryl-Hutchinson
Beverly C. Jaegers
Beryl Hutchinson (1891-1981) nghiên cứu sinh lý học phát hiện ra rằng Dermatologlyphics có thể chỉ ra tiềm năng bẩm sinh của một người.
Năm 1967

Năm 1970

Ứng dụng tại Liên Xô Cũ
Liên Xô thực hiện công trình nghiên cứu về tiềm năng con người, mối liên quan giữa tài năng, trí thông minh với sinh trắc vân tay và hệ gen của con người. Và sử dụng Sinh trắc vân tay trong việc lựa chọn thí sinh cho thế vận hội Olympic.
Beverly
Beverly C. Jaegers
Beverly C. Jaegers cho thấy dấn vân tay có liên quan đến đặc trưng tâm lý của mỗi người.

Năm 1974

Năm 1976

Schaumann và Alter
Schaumann và Alter nghiên cứu các chỉ số trên vân tay của những người bệnh tim bẩm sinh, ung thư, bệnh bạch cầu, bệnh tâm thần phân liệt… nghiên cứu được hướng vào nghiên cứu di truyền và chẩn đoán của các khuyết tật nhiễm sắc thể.
Schaumann
Ứng dụng tại Trung Quốc
Trung Quốc thực hiện công tác nghiên cứu về tiềm năng con người , trí thông minh và tài năng trong DERMATOGLYPHICS và quan điểm hệ gen của con người.

Năm 1980

Năm 1981

Roger-W.Sperry
Giáo sư Roger W.Sperry và đồng sự đã được vinh danh giải thưởng Nobel trong ngành Y sinh học vì những nghiên cứu về chức năng của não trái và não phải cũng như lý thuyết toàn não. Từ đây, những nghiên cứu về não bộ không ngừng phát triển. Những kết quả này đã được nhiều nhà khoa học sử dụng triệt để và áp dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
Roger-Sperry
Chen-Yi-Mou
Chen Yi Mou
Tiến sĩ Chen Yi Mou – Đại học Havard nghiên cứu Sinh trắc vân tay dựa trên Thuyết Đa Thông Minh của Tiến sĩ Howard Gardner. Đây là lần đầu tiên áp dụng Sinh trắc dấu vân tay trong lĩnh vực giáo dục và chức năng của não liên quan đến dấu vân tay.

Năm 1985

Năm 1986

Rita Levi – Stanley Cohen
Giải Nobel về sinh lý học đã được trao cho tiến sĩ Rita Levi-Montalcini và tiến sĩ Stanley Cohen cho phát hiện mối tương quan giữa NGF (yếu tố tang trưởng tế bào thần kinh não bộ) và EGF (yếu tố tăng trưởng tế bào biểu bì hình thành vân tay).
Cohen-Montalcini
IBMBS

IBMBSTrung tâm IBMBS – International Behavioral and Medical Biometrics Society (Trung tâm Sinh trắc học Xã hội và Hành vi ứng xử quốc tế) đã xuất bản hơn 7000 luận án về Sinh trắc vân tay. Ngày nay, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan áp dụng Sinh trắc vân tay đến các lĩnh vực giáo dục, hy vọng sẽ cải thiện chất lượng giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập bằng cách xác định các phong cách học tập khác nhau.Các nhà nghiên cứu khẳng định độ chính xác của Sinh trắc vân tay rất cao, đó là khả năng dự báo từ các tính năng của tay…

Năm 2004

Năm 2010

ADRC
ADRC – Asian Dermatoglyphics Research Centre – Trung tâm Sinh trắc học dấu vân tay Châu Á được thành lập với mục đích dùng hệ thống máy vi tính hỗ trợ cho công nghệ thống kê, nghiên cứu chuyên sâu về vân tay.
adrc
  • 093 403 2626
  • greenstar.edu.vn
  • greenstar.vantay.vn
  • 86 Lê Trọng Tấn, Hà Nội, Việt Nam

Để lại câu hỏi cho chúng tôi

X